• 1.jpg
  • header1.jpg
  • header2.jpg
  • header3.jpg

Mô hình chăm sóc theo đội - BV VN Thụy Điển Uông Bí

May mắn có dịp tham gia vào một buổi đi chăm sóc theo đội tại BV Việt Nam Thụy Điển Uông Bí- Quảng Ninh, cảm nhận được sự hài lòng của người bệnh và được sự chia sẻ của P.QLCL BV, xin phép chia sẻ cùng các anh chị mô hình này.

Xem tiếp...

DỰ BÁO Các sai xót chuyên môn trong công tác khám chữa bệnh và các giải pháp phòng ngừa năm 2015

 

SỞ Y TẾ SƠN LA

BVĐK HUYỆN MỘC CHÂU

 
 

 

           Số:  02b /KH-BVMC

 

  CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                 

           Mộc Châu, ngày 14 tháng 01 năm 2015

DỰ BÁO

Các sai xót chuyên môn trong công tác khám chữa bệnh

và các giải pháp phòng ngừa năm 2015

 
 

 

 

Căn cứ Nghị định số 87/2011/NĐ-CP ngày 27/9/2011 của Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Khám bệnh, chữa bệnh;

Căn cứ Thông tư số 19/2013/TT-BYT ngày 12/7/2013 của Bộ Y tế về Hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện;

          Thực hiện kế hoạch hoạt động năm 2015 của bệnh viện đa khoa huyện Mộc Châu, Nhằm đảm bảochaats lượng khám, chữa bệnh phục vụ nhân dân, Bệnh Viện  xây dựng kế hoạch phòng ngừa các sai sót chuyên môn năm 2015 như sau:

I/- Dự báo các sai xót trong chuyên môn.

Công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện đa khoa Mộc Châu trong nhiều năm qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ được người bệnh hết sức tin tưởng, số lượng người bệnh vào điều trị ngày càng tăng nhưng bên cạnh đó cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ có thể sảy ra gây mất an toàn cho người bệnh. Để giảm thiểu những nguy cơ mất an toàn cho người bệnh, việc dự báo những nguy cơ có thể sảy ra để các khoa phòng phòng tránh các nguy cơ sai xót nhằm khám chữa bệnh người bệnh ngày càng tốt hơn.

          1. Thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc.

          2. Thực hiện các quy trình kỹ thuật không đầy đủ.

          3. Trình độ chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng lâm sàng hạn chế.

          4. Thiếu phương tiện.

          5. Thiếu nhân lực.

          6.  Người bệnh chấp hành nội quy bệnh viện, nội quy buồng bệnh không tốt.

          7. Người bệnh khó khăn về tài chính…

          8. Thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh...

II/- Luật quy định về sai sót chuyên môn:

Theo như điều 73 của luật khám chữa bệnh có quy định về việc xác định người hành nghề có sai sót hoặc không có sai sót chuyên môn kỹ thuật.

1. Người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này (Luật KCB) xác định đã có một trong các hành vi sau đây:

a) Vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc và điều trị người bệnh;

b) Vi phạm các quy định chuyên môn kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp;

c) Xâm phạm quyền của người bệnh.

2. Người hành nghề không có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này xác định thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Đã thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh nhưng vẫn xảy ra tai biến đối với người bệnh.

b) Trong trường hợp cấp cứu nhưng do thiếu phương tiện, thiết bị kỹ thuật, thiếu người hành nghề theo quy định của pháp luật mà không thể khắc phục được hoặc bệnh đó chưa có quy định chuyên môn để thực hiện dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh; các trường hợp bất khả kháng khác dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh.

III/- Bàn luận:

Thực tế trong chuyên môn cho dù xuất phát từ nguyên nhân do nhân viên y tế hay do tại người bệnh vẫn phải có nhưng mức độ  xảy ra đến đâu và khả năng khắc phục như thế nào? Chúng ta phải thừa nhận rằng không thể không thống kê các sự cố xảy ra cho người bệnh. Luật khám chữa bệnh đã có ghi rõ như thế nào là sai sót và như thế nào là không sai sót, như vậy người làm công tác y tế không thể nào buông lời “ làm ít sai ít, không làm thì không sai ”, mang trong mình tư tưởng này thì chất lượng chuyên môn cũng như sự phấn đấu trong công việc sẽ đi bằng hai chân khập khểnh.

IV/- Các giải pháp phòng ngừa sự cố y khoa và sai sót trong chuyên môn:

Bản thân chỉ suy nghĩ là tự bản thân phải chấp hành tốt các quy định của ngành, thực hiện thủ thuật theo quy trình với tinh thần và trách nhiệm cao, theo dõi người bệnh kỹ lưỡng để lương tâm không bị cắn rứt vì sai sót chuyên môn xảy ra là do mình để ân hận cả đời.

Các giải pháp phòng ngừa sự cố y khoa và sai sót trong chuyên môn:

1.     Tinh thần trách nhiệm trong công việc

Tinh thần trách nhiệm trong công việc là yếu tố quyết định đi đến sự thành công của công việc. Một việc làm dù nhỏ nhưng nếu thiếu trách nhiệm thì cũng đưa đến hậu quả đáng tiếc đôi khi khó có cơ hội để sửa sai.

- Thực hiện nghiêm chỉnh đạo đức nghề nghiệp của cán bộ y tế.

- Thực hiện tốt 12 điều y đức của Bộ trưởng Bộ Y tế.

- Thực hiện tốt Quy chế bệnh viện của Bộ Y tế, quy định của bệnh viện.

2. Thực hiện các quy trình kỹ thuật

- Thực hiện đúng, đủ các bước của quy trình kỹ thuật.

- Đảm bảo tốt công tác vô khuẩn, khử khuẩn trong phẫu thuật, thủ thuật.

3. Trình độ chuyên môn kỹ thuật

- Thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ theo trình độ chuyên môn

- Khi công việc vượt quá khả năng chuyên môn phải báo cáo người có thẩm quyền để giải quyết.

4. Thiếu phương tiện.

- Khi cấp cứu người bệnh mà thiếu trang thiết bị, máy móc phải báo cáo người có thẩm quyền để giải quyết.

- Khi trang thiết bị, máy móc không được tự giải quyết.

- Trang thiết bị, máy móc phải đảm bảo an toàn khi đưa vào sử dụng cho người bệnh.

          5. Thiếu nhân lực:

          Phối hợp với các phòng chức năng để cân đối nhân lực giữa các khoa, phòng trong bệnh viện.

          6.  Người bệnh chấp hành nội quy bệnh viện, nội quy buồng bệnh không tốt:

          - Hướng dẫn cho người bệnh và gia đình người bệnh về quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với bệnh viện.

          - Có đầy đủ nội quy buồng bệnh để người bệnh và gia đình người bệnh thực hiện.

          7. Người bệnh khó khăn về tài chính:

          - Lập danh sách người bệnh khó khăn về kinh tế trong điều trị để được hỗ trợ, miễm giảm…

          8. Thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh:

          - Chuẩn bị tốt trang thiết bị, thuốc thiết yếu khi có tình huống xấu sảy ra.

          - Có tổ cấp cứu lưu động.

 

          V. CÁC NGUYÊN TẮC

1. Xác định chính xác người bệnh:

Để điều trị an toàn cho một bệnh nhân, người thực hiện phải biết chính xác người bệnh là ai. Tuy nhiên, đây là lĩnh vực mà sự nhầm lẫn vẫn đang xảy ra. Xác định một bệnh nhân chỉ mất một phút, nhưng có thể cứu cả một mạng người.

1.1 Nguyên tắc 1

Sử dụng ít nhất hai công cụ để nhận dạng bệnh nhân (nhưng cả hai đều không phải là số phòng và số giường của bệnh nhân.

*) Áp dụng:

- Khi lấy mẫu xét nghiệm phải sử dụng hai công cụ nhận dạng người bệnh. Ví dụ: Hỏi họ tên, tuổi bệnh nhân + Chẩn đoán bệnh.

- Khi dán nhãn lên tuýp bệnh phẩm cần có sự hiện diện của bệnh nhân.

- Tên và thông tin về người bệnh trên các nhãn bệnh phẩm phải giữ được trong suốt quá trình trước, trong và sau khi làm xét nghiệm.

- Khi xác định tên bệnh nhân, NVYT không nên đọc tên và yêu cầu bệnh nhân tái xác nhận mà để bệnh nhân tự khai báo tên của họ. Bởi vì, những bệnh nhân có rối loạn hành vi có thể đồng ý ngay cả khi không phải tên của họ. Cách làm an toàn hơn là yêu cầu bệnh nhân tự nói tên của họ.

Có thể yêu cầu bệnh nhân xác định nhân thân của họ nhưng cách làm này chỉ thích hợp khi NVYT cảm thấy đủ tin cậy bệnh nhân.

- Khi chăm sóc bệnh nhân rối loạn hành vi. Các bệnh nhân tâm thần có thể đính kèm ảnh bệnh nhân trong bệnh án để NVYT nhận diện. Ở những bệnh nhân điều trị lâu dài, NVYT đã quen mặt với bệnh nhân, có thể chấp nhận việc nhìn mặt để nhận dạng.

- Khi chăm sóc bệnh nhân ngoại trú:  Yêu cầu người bệnh nêu rõ thông tin về người bệnh như họ tên, địa chỉ, ngày sinh...

- Xác nhận người bệnh hôn mê: Người nhà người bệnh phải xác định nhân thân cho họ. Nếu một bệnh nhân hôn mê được đưa đến bệnh viện bởi công an hoặc dịch vụ cấp cứu và không có một chứng cứ nào về nhân thân, hãy hỏi công an hoặc nhân viên cấp cứu về người bệnh nếu có thể. Cũng có thể đặt cho người bệnh một cái tên tạm thời nào đó và một con số của phòng cấp cứu hoặc số hồ sơ bệnh án. Những công cụ này sau đó có thể dùng để xác định bệnh nhân và để chắp nối với các công việc khác như dán nhãn xét nghiệm, y lệnh, v.v…Tiếp nhận một bệnh nhân hôn mê khó xác định nhân thân không phải là việc thường xảy ra ở một cơ sở y tế, nhưng quan trọng là phải đưa vấn đề này vào quy định và buộc mọi người phải tuân thủ quy định một cách nhất quán.

 

2. Cải thiện thông tin giữa các NVYT

2.1 Nguyên tắc 1

Phải làm rõ y lệnh bằng miệng có sự chứng kiến của người thứ ba hoặc thông báo kết quả xét nghiệm bằng cách yêu cầu người nhận “đọc lại” đầy đủ y lệnh hoặc kết quả xét nghiệm.

Hướng dẫn áp dụng

- Không khuyến khích y lệnh miệng. Tuy nhiên, ở hầu hết cơ sở y tế, xóa bỏ y lệnh miệng là điều không thể.

- Người nhận y lệnh miệng phải viết ra và đọc lại đúng nguyên văn cho người bác sĩ đã ra y lệnh nghe. Sau đó, bác sĩ xác nhận bằng miệng rằng lệnh đó là chính xác. Người nhận y lệnh về thuốc cần phải đọc lại tên thuốc và liều lượng cho người ra y lệnh. Khi đọc đánh vần như sau “B trong quả bóng”, “ P trong phở”; đánh vần từng con số, ví dụ: “ 0,2g” phải được đọc là “ không - phẩy - hai - gam” để tránh nhầm lẫn. Thận trọng với các loại thuốc đọc nghe giống nhau.

2.2 Nguyên tắc 2

Chuẩn hóa danh mục các từ rút gọn, từ viết tắt

Áp dụng:

- Danh mục từ rút gọn hoặc viết tắt cần có sự tham gia xây dựng và thống nhất của các bác sĩ và điều dưỡng.

- In danh mục từ viết tắt trên giấy bìa cứng màu sáng và treo ở nơi thuận tiện để nhắc nhở mọi người hoặc in danh mục từ viết tắt ở lề dưới các tờ y lệnh hoặc phiếu theo dõi.

- Tiến hành một cuộc khảo sát thử để kiểm tra kiến thức nhân viên về danh mục từ viết tắt.

- Xúc tiến chính sách “không dùng từ viết tắt của tháng”.

- Tổ chức đào tạo khi thích hợp.

- Theo dõi sự tuân thủ của nhân viên với danh mục từ viết tắt.

2.3 Nguyên tắc 3

Kết quả xét nghiệm phải được tiếp nhận và báo cáo kịp thời bởi nhân viên phù hợp. Khoa xét nghiệm phải hồi kết quả xét nghiệm đảm bảo đúng giờ quy định và nhân viên tiếp nhận báo cáo kịp thời cho người có trách nhiệm.

Áp dụng:

- Chậm chễ trong việc trả kết quả xét nghiệm, nhất là các xét nghiệm cấp cứu ảnh hưởng đến quyết định điều trị và tới sự an toàn của người bệnh.

- Bệnh viện có quy định cụ thể thời gian trả các kết quả xét nghiệm

- Quy định người tiếp nhận, cách quản lí và báo cáo kết quả xét nghiệm

- Đánh giá yếu tố đúng thời gian trong việc trả và báo cáo kết quả các xét nghiệm quan trọng.

3. Đảm bảo an toàn trong dùng thuốc

3.1 Nguyên tắc 1

Thường xuyên phải rà soát danh mục các loại thuốc trông giống nhau hoặc nghe giống nhau và có các động thái ngăn ngừa sai sót dùng nhầm thuốc.

Áp dụng:

- Nhân viên của cơ sở y tế phải được thông tin đầy đủ về danh mục các tên thuốc khi đọc nghe giống nhau và trông giống nhau

- Viết rõ ràng rành mạch tên thuốc khi trao đổi thông tin về thuốc các thuốc này. Yêu cầu người nghe đọc lại tên thuốc để bảo đảm người đó hiểu chính xác.

- Xem xét khả năng sai sót khi pha thuốc vào các chai dịch truyền

- Ghi các lời nhắc nhở trên nhãn của vật chứa thuốc để cảnh giác NVYT về khả năng nhầm lẫn tiềm ẩn.

- Ghi các chỉ dẫn dùng thuốc vào đơn thuốc để giúp dược sĩ xác định các sai sót tiềm ẩn.

- Kiểm tra gói/nhãn thuốc theo phác đồ của người bệnh trước khi đưa thuốc cho người bệnh.

3.2 Nguyên tắc 2:

Loại bỏ các chất điện phân có nồng độ đậm đặc tại các buồng bệnh, đặc biệt ở những nơi có người bệnh rối lọan hành vi hoặc trẻ nhỏ.

Áp dụng:

- Tất cả các dung dịch điện phân đậm đặc phải được hạn chế để ở các khoa và chịu sự kiểm tra giám sát của khoa dược.

- Khi thực sự cần thiết mới cho phép để các chất điện phân chưa pha loãng tại phòng bệnh nhân. Phải xây dựng một hạn mức cho phép về khối lượng thuốc tại khoa, không vượt quá khối lượng cần thiết đáp ứng nhu cầu của bệnh nhân ở một giai đoạn giới hạn nào đó.

- Phải kiểm soát việc sử dụng các dung dịch này và phải có biện pháp phòng ngừa thích hợp để tránh việc các dung dịch đậm đặc bị dùng nhầm với những loại thuốc có bao bì giống với bao bì của dung dịch.

- Phải có nhãn cảnh báo dễ nhìn, dễ thấy ở nơi chứa thuốc.

 

4. Xóa bỏ phẫu thuật sai vị trí, sai bệnh nhân và sai phương pháp.

4.1 Nguyên tắc 1

Triển khai các chính sách, quy định nhằm hạn chế việc phẫu thuật sai vị trí, sai phương pháp, sai bệnh nhân phải được ngăn ngừa.

- Có hướng dẫn cụ thể để đạt được mục tiêu xóa bỏ việc phẫu thuật sai vị trí, sai phương pháp, và sai bệnh nhân.

- Đảm bảo sự tham gia tích cực và trao đổi thông tin hiệu quả giữa các thành viên của kíp mổ là điều quan trọng để thành công.

4.2 Nguyên tắc 2

Thực hiện quy trình xác định chính xác người bệnh trước phẫu thuật

Áp dụng:

- Đảm bảo bệnh án và tài liệu liên quan phải sẵn sàng trước khi bắt đầu phẫu thuật và được nhân viên kíp mổ đọc và biết về vị trí, phương pháp phẫu thuật

- Có một quy trình về việc thu thập và làm rõ thông tin về người bệnh. Bắt đầu bằng việc làm rõ phương pháp, các tình huống và sự can thiệp liên quan đến việc chuẩn bị ngay trước khi bắt đầu phẫu thuật.

4..3 Nguyên tắc 3

Đánh dấu vị trí phẫu thuật để xác định rõ ràng vị trí cần rạch và cấy ghép

Áp dụng:

- Thực hiện quy trình đánh dấu vị trí phẫu thuật và yêu cầu kíp mổ xác định rằng vị trí đã được đánh dấu.

- Đánh dấu vị trí phẫu thuật bắt buộc phải tập trung vào các ca có sự phân biệt bên phải/bên trái, các cấu trúc nhiều thành phần (ngón tay, ngón chân)...

- Thực hiện chính sách “không đánh dấu, không phẫu thuật”

- Nếu thao tác liên quan đến Xquang, kiểm tra xem phim có trong phòng mổ hay chưa, có được dán nhãn chính xác không, và được đặt đúng chỗ chưa. Kiểm tra xem tên của bệnh nhân có giống với tên trên phim không, và có giống với tên trên bìa kẹp hồ sơ không.

- Nếu có một vết thương hoặc vết xước rõ ràng ở vị trí định phẫu thuật, không cần phải đánh dấu. Tuy nhiên, nếu có nhiều vết thương hoặc vết xước và chỉ có vài vị trí sẽ được phẫu thuật, cần đánh dấu các vị trí này.

5. Giảm nguy cơ nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc.

5.1 Nguyên tắc 1

Tuân thủ các hướng dẫn về vệ sinh tay của Bộ Y tế

Áp dụng:

- Các khoa phòng phải có đủ các phương tiện cần thiết để bảo đảm vệ sinh tay và có sẵn các lọ đựng dung dịch chứa cồn trên các bàn khám bệnh, các xe tiêm, xe làm thủ thuật, buồng bệnh.

- Khuyến khích bệnh nhân, gia đình họ yêu cầu NVYT rửa sạch tay trước khi chăm sóc, làm thủ thuật cho người bệnh.

- Dán các áp phích bên bồn rửa tay và và trong phòng tắm để nhắc nhở nhân viên rửa tay.

- Giám sát tuân thủ rửa tay của NVYT và phản hồi với người phụ trách về việc thực hiện của nhân viên.

- Khuyến khích người bệnh việc rửa tay sau khi đi vệ sinh, trước khi ăn…

5.2 Nguyên tắc 2

Tuân thủ các phòng ngừa cách ly trong các cơ sở y tế để đảm bảo an toàn cho cả người bệnh và nhân viên y tế.

Áp dụng:

- Thực hiện các thực hành về Phòng ngừa chuẩn

- Thực hiện các thực hành về Phòng ngừa theo đường tiếp xúc

- Thực hiện các thực hành về Phòng ngừa theo đường giọt bắn

- Thực hiện các thực hành về Phòng ngừa theo đường không khí

5.3 Nguyên tắc 3

Tuân thủ các quy định về vô khuẩn khi làm thủ thuật xâm lấn

Áp dụng:

- Dụng cụ y tế phải đảm bảo vô khuẩn cho tới khi sử dụng cho người bệnh

- Tuân thủ các kỹ thuật vô khuẩn trong khi tiến hành các công việc, các thủ thuật và các thao tác chuyên môn.

5.4 Nguyên tắc 4

Tuân thủ các quy định về quy trình xử lí dụng cụ y tế để dùng lại

Áp dụng:

- Phân loại dụng cụ và xử lí dụng cụ theo mục đích sử dụng

- Thực hiện đúng quy trình khử nhiễm, làm sạch, khử khuẩn, tiệt khuẩn

- Thực hiện các quy định về kiểm soát chất lượng tiệt khuẩn

- Thực hiện các quy định về bảo quản và sử dụng các dụng cụ vô khuẩn

6. Giảm nguy cơ gây thương tổn cho người bệnh do ngã.

6.1 Nguyên tắc 1

Đánh giá định kỳ nguy cơ làm cho người bệnh bị ngã, bao gồm nguy cơ tiềm ẩn liên quan đến tình trạng bệnh, sử dụng thuốc, phương pháp điều trị của bệnh nhân và có các hành động can thiệp hiệu quả bất cứ nguy cơ nào khi đã được nhận diện.

Áp dụng:

- Tổ chức đánh giá về nguy cơ té ngã tiềm ẩn; để rà soát thường xuyên các sự cố té ngã, tìm kiếm các xu hướng và trao đổi những phát hiện mới với các nhân viên khác.

- Lắp đặt chuông báo động tại giường, trong các nhà vệ sinh, lối ra vào

- Hạn chế việc mở cửa sổ

- Huấn luyện bệnh nhân và gia đình về phòng ngừa té ngã khi vào viện

- Sử dụng “giường thấp” và có thành cho những người có nguy cơ té ngã.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

1. Bệnh viện:

Thành lập Hội đồng quản lý chất lượng bệnh viện để xây dựng kê hoạch cải tiến nâng cao chất lượng bệnh viện, chỉ đạo, giám sát và đánh giá trong từng quý, 6 tháng đầu năm, 6 tháng cuối năm và cả năm.

2.     Trưởng phó các khoa, phòng:

Xây dựng kế hoạch hoạt động nâng cao chất khám chữa bệnh trong khoa phòng, đôn đốc các thành viên trong khoa phòng nghiêm túc thực hiện, tổ chức kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả báo cáo hội đồng quản lý chất lượng bệnh viện.

 

          Trên đây là dự báo sai xót chuyên môn và các biện pháp phòng ngừa tại bệnh viện đa khoa huyện Mộc châu. Đề nghị trưởng, phó các khoa, phòng chỉ đạo các thành viên trong khoa, phòng nghiêm chỉnh thực hiện tốt các dự báo trên để đảm bảo an toàn cho người bệnh.

 

Nơi nhận;

- Các khoa, phòng;

- Lưu phòng VT.

KT GIÁM ĐỐC

PHÓ GIÁM ĐỐC

 

  

BSCKI. Khuất Thanh Bình

 

 

 

 

BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN MỘC CHÂU TỔ CHỨC TỌA ĐẢM KỶ NIỆM 85 NĂM NGÀY THÀNH LẬP HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ VIỆT NAM VÀ 5 NĂM NGÀY PHỤ NỮ VIỆT NAM

       Sáng  20/10/2015,  BCH Công đoàn Bệnh viện đa khoa Mộc Châu đã tổ chức tọa đàm kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam ( 20/10/1930- 20/10/2015) và 5 năm ngày Phụ nữ Việt Nam ( 20/10/2010- 20/10/2015).

Xem tiếp...

TRAO TIỀN HỖ TRỢ CỦA LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG TỈNH SƠN LA CHO CÁN BỘ MỔ GHÉP GAN CÔNG TÁC TẠI BVĐK MỘC CHÂU

      Sáng ngày 31/7/2015, được sự uỷ quyền của BCH Liên đoàn lao động Tỉnh Sơn La, BCH Liên đoàn lao động Huyện Mộc Châu, đồng chí Khuất Thanh Bình- chủ tịch công đoàn cơ sở BVĐK Mộc Châu đã chuyển trao phần quà trị giá 4.000.000 đồng của Liên đoàn lao động tỉnh Sơn La cho Bác sỹ Trần Huy  Cường- Trưởng phòng  kế hoạch nghiệp vụ BVĐK Mộc Châu. Đây là tình cảm chia sẻ của đoàn viên công đoàn trong toàn tỉnh đối với Bác sỹ Trần Huy Cường – Người đã mổ thay gan năm 2013 tại Bệnh viện Việt Đức.

 Thay mặt cho toàn thể gia đình, đồng chí Trần Huy Cường đã bày tỏ sự cảm ơn đến các đồng chí trong BCH Liên đoàn lao động Tỉnh, BCH Liên đoàn lao động Huyện và toàn thể các đồng chí cán bộ công đoàn trong toàn tỉnh.

 

Chuyên mục phụ